emotionsfillthelake

tú bân và nhiên thuân (1975);
          	
          	nhiên thuân thương mến, đầu xuân giáp dần, tay trong tay, môi cười ta chẳng lìa xa. chiếc lambretta tôi chở anh đến nơi “dấu yêu”, giờ đành lặng lẽ đứng một mình, hồi tưởng về những cung đường ấm áp ta từng kề vai. 
          	tháng một, năm 1975, ngồi bên chiếc bàn gỗ tròn kê sát cửa sổ trong la pagode, tôi theo thói quen hướng mắt nhìn ra tuyến đường tự do. dòng xe chạy tấp nập và ồn ào, nhưng tất cả những gì tôi cảm nhận được chỉ là mùi cà phê thoang thoảng hoà cùng khói thuốc batos, “c’est lui pour moi…” - câu hát trong bản “la vie en rose” lụi dần trong tiếng rít nhẹ của sóng nhiễu.
          	la pagode, các văn nghệ sĩ vẫn còn miên man về vẻ đẹp làm nên cuộc đời họ, và các cánh nhà báo vẫn ngồi trao đổi về đám tin tức họ đã thu thập được, nhưng mọi thứ dường như trầm lắng hơn qua hai chữ “thời cuộc” - một hiện thực sắp xảy đến không lâu nữa thôi. liệu khi ấy họ có ngờ rằng, một mai, tiếng rầm rì của ngày hôm nay sẽ thực sự vỡ oà thành một cơn đại hồng thuỷ chính trị cuốn trôi đi tất thảy những sự đang diễn ra.
          	nhiên thuân thương mến, giờ đây phước long đã vào tay quân giải phóng, kéo theo hàng ngàn lời đồn đoán về việt nam cộng hoà sẽ bị mỹ bỏ lại. có lẽ anh của tôi mừng lắm. mỗi lần nhắc đến chiến tranh, ẩn sau làn khói bom đạn mịt mù đầy xót xa, ánh mắt anh chẳng thể giấu nổi vẻ tự hào khi hướng về một việt nam dân chủ. anh luôn nói với tôi, rằng anh yêu lá cờ ấy lắm, rằng nửa màu đỏ là cho sự hi sinh anh dũng, còn nửa màu xanh là niềm khát khao hoà bình, tất cả đều xuất phát từ ngôi sao vàng lấp lánh một lý tưởng cao đẹp. mỗi khi nghe sự ấy, tôi cảm thấy thật bối rối và hổ thẹn. tôi không xứng đáng ve vuốt đôi bàn tay anh, cũng không xứng đáng ôm lấy bờ ngực nơi quả tim ấy phập phồng vì cách mạng.
          	nhiên thuân thương mến, có lẽ tôi sắp phải rời xa sài gòn, rời xa anh thật rồi.

emotionsfillthelake

tú bân và nhiên thuân (1975);
          
          nhiên thuân thương mến, đầu xuân giáp dần, tay trong tay, môi cười ta chẳng lìa xa. chiếc lambretta tôi chở anh đến nơi “dấu yêu”, giờ đành lặng lẽ đứng một mình, hồi tưởng về những cung đường ấm áp ta từng kề vai. 
          tháng một, năm 1975, ngồi bên chiếc bàn gỗ tròn kê sát cửa sổ trong la pagode, tôi theo thói quen hướng mắt nhìn ra tuyến đường tự do. dòng xe chạy tấp nập và ồn ào, nhưng tất cả những gì tôi cảm nhận được chỉ là mùi cà phê thoang thoảng hoà cùng khói thuốc batos, “c’est lui pour moi…” - câu hát trong bản “la vie en rose” lụi dần trong tiếng rít nhẹ của sóng nhiễu.
          la pagode, các văn nghệ sĩ vẫn còn miên man về vẻ đẹp làm nên cuộc đời họ, và các cánh nhà báo vẫn ngồi trao đổi về đám tin tức họ đã thu thập được, nhưng mọi thứ dường như trầm lắng hơn qua hai chữ “thời cuộc” - một hiện thực sắp xảy đến không lâu nữa thôi. liệu khi ấy họ có ngờ rằng, một mai, tiếng rầm rì của ngày hôm nay sẽ thực sự vỡ oà thành một cơn đại hồng thuỷ chính trị cuốn trôi đi tất thảy những sự đang diễn ra.
          nhiên thuân thương mến, giờ đây phước long đã vào tay quân giải phóng, kéo theo hàng ngàn lời đồn đoán về việt nam cộng hoà sẽ bị mỹ bỏ lại. có lẽ anh của tôi mừng lắm. mỗi lần nhắc đến chiến tranh, ẩn sau làn khói bom đạn mịt mù đầy xót xa, ánh mắt anh chẳng thể giấu nổi vẻ tự hào khi hướng về một việt nam dân chủ. anh luôn nói với tôi, rằng anh yêu lá cờ ấy lắm, rằng nửa màu đỏ là cho sự hi sinh anh dũng, còn nửa màu xanh là niềm khát khao hoà bình, tất cả đều xuất phát từ ngôi sao vàng lấp lánh một lý tưởng cao đẹp. mỗi khi nghe sự ấy, tôi cảm thấy thật bối rối và hổ thẹn. tôi không xứng đáng ve vuốt đôi bàn tay anh, cũng không xứng đáng ôm lấy bờ ngực nơi quả tim ấy phập phồng vì cách mạng.
          nhiên thuân thương mến, có lẽ tôi sắp phải rời xa sài gòn, rời xa anh thật rồi.